
Nguồn: László Bruszt, “Why Orbán Lost”, Project Syndicate, 13/04/2026
Biên dịch: Viên Đăng Huy
Trong suốt 16 năm, đất nước Hungary dưới thời Viktor Orbán là hiện thân của một tư tưởng đáng lo ngại: rằng “dân chủ phi tự do” có thể được duy trì ổn định và bám rễ quyền lực một cách bền vững. Bằng cách kết hợp ưu thế áp đảo tại các kỳ bầu cử với việc làm suy yếu có hệ thống cơ chế kiểm soát và đối trọng của các thiết chế, Orbán dường như đã giải được bài toán hóc búa của chủ nghĩa độc tài hiện đại: làm sao để thắng liên tiếp tại hòm phiếu trong khi vẫn rỗng hóa được nền dân chủ tự do. Và bởi mô hình của ông đã truyền cảm hứng cho những người ngưỡng mộ trên khắp phương Tây (và xa hơn nữa), góp phần củng cố niềm tin về sự suy tàn của nền dân chủ nói chung, nên thất bại ê chề của ông trong cuộc bầu cử lần này mang lại những hệ lụy vượt xa khỏi biên giới Hungary.
Chiến thắng của đảng Tisza do Péter Magyar lãnh đạo, cũng giống như thắng lợi của Liên minh Dân sự Ba Lan trước đảng Pháp luật và Công lý (PiS) phi tự do vào năm 2023, không chỉ đại diện cho sự đảo ngược của một hệ thống tưởng chừng đã vững chắc, mà còn phát đi tín hiệu rằng những chế độ như vậy có thể mong manh hơn vẻ ngoài của chúng. Bài học rút ra không đơn giản chỉ là các chế độ phi tự do có thể thất bại. Bài học thực sự là: chính logic vận hành giúp duy trì chúng lại có thể trở thành tác nhân dẫn đến sự sụp đổ của chính chúng.
Các nhà lãnh đạo phi tự do từ lâu đã biện minh cho việc tập trung quyền lực bằng cách viện dẫn thành công của các quốc gia phát triển ở Đông Á. Họ lập luận rằng, bằng cách làm suy yếu các ràng buộc thể chế, chính phủ có thể hành động quyết đoán hơn, điều phối đầu tư hiệu quả và mang lại tăng trưởng kinh tế.
Nhưng so sánh này luôn là một sự đánh tráo khái niệm. Các chế độ của Park Chung-hee ở Hàn Quốc hay Lý Quang Diệu ở Singapore hoạt động hiệu quả không phải vì họ đối mặt với ít ràng buộc hơn, mà vì họ phải chịu nhiều áp lực hơn. Việc mất an ninh về địa chính trị và nguy cơ bất ổn nội bộ thường trực đã buộc họ phải đem lại lợi ích cho số đông nhân dân, nếu không muốn đối mặt với sự sụp đổ. Việc giảm bớt trách nhiệm giải trình không tạo ra sự tự mãn; trái lại, nó tạo ra kỷ luật.
Nói một cách tổng quát hơn, năng lực thực thi của nhà nước phụ thuộc vào các ràng buộc mang tính kỷ luật đối với những người nắm quyền. Những ràng buộc này có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Trong các nền dân chủ tự do, đó là cơ chế kiểm soát và đối trọng hiến định. Trong các chế độ độc tài phát triển, đó là những lỗ hổng dễ bị tổn thương từ cả bên trong lẫn bên ngoài.
Các chế độ phi tự do đương đại vận hành dưới những điều kiện rất khác biệt. Khi thiếu vắng những áp lực tương tự như thời Park hay Lý, việc làm suy yếu trách nhiệm giải trình không tạo ra năng lực phát triển. Ngược lại, nó tạo điều kiện cho các hành vi trục lợi. Quyền lực trở thành công cụ để duy trì các liên minh chính trị hơn là để cung cấp lợi ích công cộng. Một chiến lược vốn dĩ để tăng cường năng lực nhà nước đã biến thành một hệ thống phân phối lợi ích cục bộ.
Theo thời gian, logic này bào mòn nền tảng kinh tế của thể chế phi tự do. Khi lòng trung thành chính trị trở thành tiêu chí hàng đầu để phân bổ nguồn lực, hiệu quả và đổi mới sáng tạo sẽ bị bóp nghẹt. Mua sắm công ưu tiên phe cánh thân tín thay vì những doanh nghiệp năng suất nhất. Các doanh nhân trong nước phải đối mặt với tham nhũng, sự bất định và cơ hội mở rộng hạn chế. Đồng thời, các chiến lược tăng trưởng dựa vào đầu tư trực tiếp nước ngoài tuy tạo ra việc làm nhưng thường thất bại trong việc nâng cấp trình độ công nghệ hoặc tạo ra mức tăng năng suất bền vững.
Đó chính xác là những gì đã xảy ra với Hungary dưới thời Orbán. Khi hiệu quả kinh tế suy yếu, khả năng duy trì liên minh ủng hộ của chế độ cũng giảm theo. Tăng trưởng chậm lại làm thu hẹp cơ sở thuế và giảm nguồn lực dành cho tái phân phối. Đầu tư vào giáo dục, y tế và dịch chuyển xã hội rơi vào trì trệ. Người dân Hungary ngày càng cảm nhận hệ thống vốn được quảng bá là ổn định thực chất là một hệ thống khép kín. Những bộ phận lớn của lực lượng lao động phải đối mặt với triển vọng u ám, tiền lương dậm chân tại chỗ và cơ hội thăng tiến hạn hẹp.
Vào giai đoạn đầu trong triều đại kéo dài của mình, những động lực nội tại này phần nào bị che lấp bởi các khoản hỗ trợ tài chính từ Liên minh Châu Âu. Nhưng việc tiếp cận các nguồn lực này ngày càng đi kèm với các điều kiện về tính minh bạch của chính phủ và sự độc lập của tư pháp — chính là những hình thức trách nhiệm giải trình mà Orbán khước từ. Kết quả là một sự ràng buộc tự thân: bằng cách từ chối sự giám sát bên ngoài, chế độ đã tự giới hạn khả năng tiếp cận nguồn vốn của chính mình.
Khi các ràng buộc này thắt chặt, không ngạc nhiên khi Orbán tìm đến những đối tác thậm chí còn phi tự do hơn, bao gồm Nga và Trung Quốc, đánh đổi quyền tự chủ về quản lý lấy những hình thức phụ thuộc địa chính trị mới. Một dự án bắt đầu với danh nghĩa chủ quyền lại có nguy cơ kết thúc trong sự lệ thuộc và yếu thế.
Nhìn rộng hơn, Orbán đã cho thấy rằng ngay cả những hệ thống bị thao túng nặng nề nhất vẫn có thể lộ ra những kẽ hở chính trị. Chính những cơ chế giúp duy trì chế độ phi tự do, theo thời gian, có thể biến thành mầm mống của sự mong manh dễ vỡ.
Mô hình của Hungary dựa trên một liên minh lỏng lẻo giữa các tập đoàn đa quốc gia, tầng lớp tinh hoa trong nước có quan hệ chính trị, và những cử tri được hứa hẹn về sự ổn định và cải thiện kinh tế. Nhưng khi tăng trưởng chậm lại, căng thẳng trong liên minh này gia tăng. Các doanh nghiệp nội địa thấy ít cơ hội hơn, trong khi cử tri đối mặt với mức sống sụt giảm và tương lai bị bít lối.
Việc đánh bại Orbán trở nên khả thi khi nỗi bất bình gặp được năng lực tổ chức — khi một đối thủ nặng ký có thể đoàn kết những nhóm cử tri vốn bị chia rẽ và biến sự thất vọng thành hành động tham gia chính trị. Ở những nơi mà các lực lượng đối lập truyền thống còn yếu kém hoặc mất uy tín, điều này đòi hỏi một sự lãnh đạo có khả năng chuyển hóa những nỗi thống khổ xã hội thành một phong trào chính trị sâu rộng, huy động được sự ủng hộ xuyên suốt các tầng lớp và các ranh giới thể chế.
Đó là những gì Magyar và đảng Tisza của ông đã đạt được. Trong nhiều năm, Hungary là minh chứng cho việc sự thụt lùi dân chủ có thể được thể chế hóa và duy trì trong khuôn khổ cạnh tranh bầu cử hình thức. Chiến thắng quyết định của Magyar chứng minh một điều quan trọng không kém: rằng những hệ thống như vậy không phải là không thể đảo ngược.
Tuy nhiên, thất bại của Orbán, cũng như thất bại của đảng PiS tại Ba Lan ba năm trước, không đánh dấu sự kết thúc của chủ nghĩa phi tự do. Những điều kiện cấu trúc thúc đẩy sự trỗi dậy của nó — sự bất ổn kinh tế, sự rạn nứt xã hội và sự ngờ vực chính trị — vẫn tồn tại dai dẳng ở nhiều nền dân chủ. Tuy vậy, sự sụp đổ của Orbán đã thách thức cảm giác về tính tất yếu vốn bao trùm lên xu hướng rời xa dân chủ tự do trên toàn cầu.
Giờ đây, nhiệm vụ khó khăn hơn mới thực sự bắt đầu: xóa bỏ các mạng lưới bảo trợ bám rễ sâu, khôi phục quyền tự chủ của các thiết chế và tái thiết năng lực nhà nước mà không lặp lại những sai lầm đã dung dưỡng chủ nghĩa phi tự do ngay từ đầu. Magyar cũng sẽ cần định nghĩa lại cách theo đuổi lợi ích quốc gia trong lòng EU — củng cố sự ủng hộ trong nước đồng thời xây dựng các liên minh xuyên quốc gia có khả năng thúc đẩy các hình thức hội nhập sâu rộng và bền bỉ hơn.
Đánh bại chủ nghĩa phi tự do tại hòm phiếu đã khó. Xây dựng một nền dân chủ tự do kiên cường sau đó — một nền dân chủ vừa có trách nhiệm giải trình vừa có tính bao trùm — có lẽ còn khó hơn bội phần. Nhưng có một điều chắc chắn: các quốc gia dân chủ, dù là bạn hay thù, sẽ dõi theo tiến trình này một cách sát sao.
László Bruszt, Giáo sư Khoa học Chính trị tại Đại học Trung Âu (CEU), từng giữ chức Quyền Hiệu trưởng và Chủ tịch CEU trong giai đoạn 1996-1997.
